Vẻ Đẹp Kín Ẩn Nơi Đan Viện Xitô Thánh Mẫu Châu Sơn Đơn Dương

Vẻ Đẹp Kín Ẩn Nơi Đan Viện Xitô Thánh Mẫu Châu Sơn Đơn Dương

Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist.

Cao nguyên Đà Lạt, còn được gọi là cao nguyên Lang Biang hay cao nguyên Lâm Viên, được bác sĩ, tiến sĩ Alexandre Yersin phát hiện ngày 21/06/1893; do đó, ông được gọi là cha đẻ của thành phố Đà Lạt. Cao nguyên này ghi dấu sự thành lập của Giáo phận Đà Lạt từ năm 1960 theo sau việc thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam dưới thời Đức Giáo hoàng Gioan XXIII.

Khi hành hương về Giáo phận này và muốn viếng thăm các địa điểm mang đậm dấu ấn đức tin Công giáo, hẳn bạn không thể bỏ qua các địa danh nổi tiếng nằm ngay trong lòng “thành phố mộng mơ” như: Nhà thờ Domain De Marie, Trung tâm Mục vụ hay Nhà thờ Chánh Tòa. Nhưng nếu muốn thực sự “chạy” khỏi cái ồn ào vội vã của xã hội tân thời để sống chậm lại và hoàn toàn đắm mình trong bầu khí của thinh lặng, người ta sẽ đến với một Dòng tu chiêm niệm, chỉ cách thành phố Đà Lạt chừng 40km, đó là Đan viện Xitô Thánh Mẫu Châu Sơn Đơn Dương, đã được Đấng Hóa Công khéo léo đặt vào giữa một khung cảnh thiên nhiên vừa hùng vĩ, vừa êm đềm. Đan viện này chứa đựng những vẻ đẹp kín ẩn khiến những ai đã đặt chân đến đây đều phải ngỡ ngàng khi phát hiện ra sự mới mẻ của nó. Nào, chúng ta cùng nhau khám phá nhé.

Vẻ đẹp trước hết của Đan viện nằm trong chính lịch sử hình thành của nó, vốn ẩn chứa bàn tay quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa. Đan Viện Xitô Châu Sơn vốn dĩ được thành lập tại thôn Châu Sơn, xã Phú Sơn, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình vào năm 08/09/1936; nhưng do hoàn cảnh chiến tranh, ngày 21/09/1952, Đan viện di cư vào Nam để sống còn, trước tiên trú ngụ tại họ đạo Phước Lý, Nhơn Trạch, Đồng Nai. Ngay cả trong hoàn cảnh khó khăn ấy, nhân số Cộng đoàn vẫn phát triển mau lẹ, thành thử cơ sở ở Phước Lý ngày càng trở nên chật chội. Hơn nữa, đất đai nơi đây thiếu màu mỡ khó canh tác, lại có đến hai Đan viện Xitô hiện diện trong cùng một địa phương.

Do đó, hướng nhìn về tương lai, Cộng đoàn nhận thấy cần phải tìm một địa điểm mới. Một nhóm các vị hữu trách được phái lên Buôn Ma Thuột; tại đây, các ngài được một linh mục dòng Đaminh giới thiệu cho một sở đất rộng 150ha, nằm trải dài trên một ngọn đồi đất bazan dọc theo sông Đa Nhim, thuộc về Viện Pasteur ở vùng D’ran (Đơn Dương), tỉnh Tuyên Đức. Tạo Hóa đã dựng nên nơi đây gần như hội đủ các yếu tố cần thiết cho đời sống Đan tu: khí hậu ôn hòa, đất đai trù phú, núi rừng trùng điệp, cảnh quan yên bình tĩnh mịch.

Thế là ngày 01/06/1957, toàn thể Cộng đoàn Châu Sơn rời họ đạo Phước Lý chuyển lên Đơn Dương. Từ đây, Cộng đoàn Châu Sơn di cư tiếp tục phát triển mang tên Đan viện Xitô Thánh Mẫu Châu Sơn Đơn Dương. Cộng đoàn bắt tay ngay vào việc kiến thiết cơ sở vật chất, ổn định đời sống. Một khuôn viên được hình thành gồm các khu vực như Nhà khách, Nhà khấn, Học viện, Tập viện, Nhà cơm, Nhà bếp… Trong đó, Nhà nguyện nằm ở trung tâm của Đan viện và là điểm kết nối toàn bộ các khu vực lại thành một cấu trúc liền mạch và thống nhất.

Vì vị trí đặc biệt của mình nên Nhà nguyện được gọi là trái tim của Đan viện. Nơi đây quả thực chứa đựng nhiều vẻ đẹp tiềm ẩn mà nếu không tìm hiểu chi tiết, người ta sẽ chẳng thể nào biết được:

“Hỡi cửa đền, hãy cất cao lên,
cao lên nữa, hỡi cửa đền cổ kính,
để Đức Vua vinh hiển ngự vào.”
(Tv 24,7)

Có lẽ câu Thánh vịnh này đã trở thành nguồn cảm hứng cho việc xây dựng Nhà nguyện của Đan viện. Quả thực, làm gì có ngôi nhà nào trên mặt đất này xứng đáng là nơi cư ngụ cho Đấng đã dựng nên cả cả đất trời (Tv 121,2). Thế nên kiến trúc Gothic cách điệu của Nhà nguyện với mái vòm vuốt nhọn, chiều cao vượt trội và kết cấu thẳng vút về phía bầu trời như thể đang cố gắng mở rộng hết sức và hết lực rướn mình lên nài nỉ Đấng Hóa Công hãy thương tình ngự vào. Sở dĩ Nhà nguyện cao như vậy mà vẫn có thể đứng vững trước những cơn gió mạnh mẽ của vùng sơn cước Đơn Dương là vì bên trong có đến hai hệ thống cột tải trọng: Hệ thống chính gồm hai hàng cột chạy dọc hai bên nhà nguyện, cách tường nhà 2m, vươn cao thẳng tắp, nối giữa đất với vòm, tạo nên một vẻ đẹp thanh thoát, huyền bí. Các cột phụ nằm bên trong tường, xen lẫn với các ô cửa sổ. Đáng chú ý là tất cả các cửa sổ đều quay mặt về phía cung thánh – trung tâm của Nhà nguyện, như thể muốn dâng tất cả ánh quang mà chúng hứng được lên Đấng đang ngự trên ấy. Điều đặc biệt này làm cho tường không phải là một mặt phẳng như thường thấy, nhưng hệ thống cột phụ xen kẽ với cửa sổ tạo ra cấu trúc zigzag tuần hoàn giúp khuếch âm, làm cho lời ca của các Đan sĩ trở nên vang vọng khi cử hành Thần vụ, khiến người nghe cảm nhận như thể đang lạc vào hội nhạc Thiên quốc. Khoảng cách giữa hệ thống cột chính và cột phụ tạo ra các hành lang bên hông Nhà nguyện. Chiều rộng của chúng đủ để lát mười hàng gạch mà các Đan sĩ tự đúc; Toàn bộ hệ thống cột – vòm – tường – gạch nền tạo nên hình ảnh đôi bàn tay đang chắp lại trong tư thế cầu nguyện.

Thực ra, tất cả các kiến trúc vừa mô tả đều có ý nghĩa của riêng nó. Các cột tải trọng chính nối giữa mặt đất và lòng Nhà nguyện cùng với hình ảnh đôi bàn tay chắp lại nhắc nhở người Đan sĩ luôn ý thức vai trò đặc biệt của mình: là nhịp cầu trung gian nối kết giữa nhân loại và Thiên Chúa, để dâng lên Thiên Chúa mọi nhu cầu của nhân loại, đồng thời đợi trông Thiên Chúa ban ơn cho họ, như tâm tình sau đây của Vịnh gia:

“Phần tôi, những ngày họ đau yếu,
tôi đã từng khoác áo nhặm vào thân,
lại ăn chay để hãm mình phạt xác.
Lòng tôi ấp ủ câu kinh lời nguyện,
như cầu cho bạn hữu anh em.”
(Tv 35,13-14)

Hướng quay của các cửa sổ ngụ ý rằng: trọn vẹn con người Đan sĩ phải luôn quy chiếu về Thiên Chúa; Người là khởi đầu, trung tâm và cùng đích toàn bộ cuộc sống của họ; đồng thời, tất cả những gì họ là và làm đều nhằm tôn vinh Thiên Chúa, hợp như lời Thánh vịnh 115:

“Xin đừng làm rạng rỡ chúng con,
vâng lạy Chúa, xin đừng,
nhưng xin cho danh Ngài rạng rỡ,
bởi vì Ngài thành tín yêu thương.”
(Tv 115,1)

Hai đường gạch của hành lang Nhà nguyện gợi cho Đan sĩ nhớ đến hai con đường mà Chúa Giêsu mô tả trong Tin Mừng (x. Mt 7,13-14), để các môn đệ của Người biết đâu là nẻo đường của kẻ khôn ngoan mà chọn lựa cách dứt khoát. Đường gạch đỏ thì chật hẹp, là đường của đau khổ, tử đạo; ít người muốn đi qua lối này, nhưng đây lại là đường đưa đến sự sống. Đường gạch vàng thì rộng thênh thang, là đường của dễ dãi, vinh quang; người ta tranh nhau vào lối ấy, nhưng cuối con đường lại là diệt vong muôn đời:

Vì Chúa hằng che chở
nẻo đường người công chính,
còn đường lối ác nhân
đưa tới chỗ diệt vong.
(Tv 1,6)

Nếu trung tâm của Nhà nguyện là cung thánh thì trung tâm của cung thánh là Nhà Tạm, nơi Chúa Giêsu Thánh Thể – “chủ nhân” của Đan viện đang hiện diện. Nhà Tạm hình vuông được ôm lấy bởi một vòng cung bán nguyệt diễn tả sự tròn đầy viên mãn của công trình sáng tạo và cứu chuộc được hoàn tất nơi Con Một Người; hình bán nguyệt còn biểu trưng cho Tấm Bánh tinh tuyền là Mình Thánh Chúa Kitô. Ngay phía trên bán nguyệt là hình một mái nhà, ngụ ý rằng gia đình Đan viện luôn có Chúa Giêsu hiện diện, và do đó, mỗi phần tử trong nhà ấy đều được Người chở che chăm sóc. Trên đỉnh mái nhà ấy là Thánh Giá vươn cao lên tới vòm Nhà nguyện, ở đó Đấng Cứu Thế đang treo mình; chân Thánh Giá nối với Nhà Tạm. Sự gắn liền giữa Thánh Thể và Thánh Giá nhằm nhấn mạnh rằng: Thánh Thể chính là sự hiện tại hóa Hy tế Thập Giá của Đức Kitô. Nếu Nhà nguyện có dáng của đôi bàn tay đang chắp lại thì bệ đặt Nhà Tạm lại là một đôi tay đang mở ra, tạo thành hình như một chén thánh đỡ lấy Thánh Thể. Đây là một hình ảnh có ý nghĩa kép: Thứ nhất, đôi tay mở ra là một lời mời gọi các môn sinh của thánh phụ Biển Đức hãy đến rước lấy Chúa Giêsu Thánh Thể mỗi ngày, vì Người là nguồn sống đem lại sức mạnh cho mọi hoạt động của những ai đón nhận Người. Thứ hai, chén thánh là một lời kêu mời người Đan sĩ hãy dâng tất cả những khó khăn, gian lao trong ngày sống để hiệp thông vào chén đau khổ của Đức Kitô, thông phần vào Hy tế Thập Giá của Người để cứu rỗi các linh hồn.

Làm sao khi nhắc đến Thánh Thể, ta lại có thể quên Thánh Mẫu – Đức Maria – Người Nữ của Thánh Thể. Có lẽ khi thoáng nhìn Đức Mẹ trong Nhà nguyện, ta chẳng thấy có gì đặc biệt: một bức tượng nhỏ bé, chỉ cao 1,5m và hơi ngả màu thời gian. Nhưng nếu biết về nguồn gốc của tượng, hẳn bạn sẽ ngạc nhiên. Viện phụ tiên khởi của Đan viện – Stêphanô Trần Ngọc Hoàng đã đặt làm tượng này theo nguyên bản tượng Đức Mẹ Fatima. Chất liệu tạc tượng là gỗ sồi được lấy từ làng Fatima, Bồ đào Nha, chính nơi Đức Mẹ đã hiện ra với ba trẻ nhỏ. Và khi quan sát tượng, nếu tinh ý, quý khách sẽ thấy dưới đế có khắc rõ tên địa danh và nghệ nhân tạc tượng. Điều kỳ diệu là mỗi khi cầu nguyện trước Đức Mẹ đây, bạn sẽ cảm nhận ánh mắt người đang âu yếm nhìn bạn dù bạn đứng ở hướng nào.

 

Lòng Nhà nguyện là nơi đặt các ca tòa. Mỗi ca tòa cao 1m, rộng 1,2m và dài 13m, phân thành mười chỗ ngồi. Thân ca tòa được làm chủ yếu bằng gỗ thông; phần ghế ngồi được làm bằng gỗ dầu và gỗ gõ là những loại gỗ rất cứng, không bị cong hay móm theo thời tiết. Có tất cả mười ca tòa được chia đều cho hai bên: trái và phải, mỗi bên gồm năm ca tòa xếp thành ba hàng thẳng tắp. Tên gọi “ca tòa” có ý nghĩa rằng: đây là nơi dành riêng để các Đan sĩ hát kinh Phụng vụ một cách trang trọng. Trong ca tòa, vị thế của các Đan sĩ giống như các thiên thần “con vịnh ca kính Chúa” (Tv 173). Điều đặc biệt ở Đan viện Xitô Châu Sơn Đơn Dương có các ca tòa ở hai bên quay hướng vào nhau thay vì hướng lên cung thánh. Đúng theo truyền thống Đan tu luôn đặt các ca tòa quay hướng vào nhau, không chỉ để đặt các Đan sĩ đối diện với nhau hầu thuận tiện cho việc hát đối đáp nhạc bình ca Gregorian, nhưng còn nhằm diễn tả sự hiệp nhất trong mối tương quan hai chiều: với Chúa và với anh em giữa cộng đoàn Đan tu, đúng như lời Chúa nói: “Ở đâu có hai hay ba người họp nhau nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy giữa họ” (Mt 18,19).

Bản thân cuộc sống của các Đan sĩ nơi đây cũng mang một vẻ đẹp kín ẩn bởi sự tách biệt khỏi thế gian của, mà ít ai có thể hiểu rõ được. Trong nội vi Đan viện, người Đan sĩ sống tương quan khăng khít với Thiên Chúa và anh em qua việc cầu nguyện và lao động trong thinh lặng và cô tịch. Mỗi ngày, cộng đoàn cùng nhau hiệp dâng Thánh lễ, cử hành bảy giờ kinh Phụng vụ, suy niệm Lời Chúa… Đan xen giữa các giờ cầu nguyện là thời gian dành cho lao động chân tay hoặc lao động trí óc. Công việc của các Đan sĩ rất đa dạng: giảng tĩnh tâm, dạy học, viết – dịch sách báo, hay canh tác vườn tược, hồ ao, đóng nước, làm bếp, xây dựng, hoặc đón tiếp khách… Có thể nói đối với người Đan sĩ, cầu nguyện và lao động giống như hai mặt của một bàn tay, như hai nhịp hít vào và thở ra của cùng một hơi thở, như đôi cánh của một con đại bàng: bàn tay thiếu một mặt thì chẳng còn bàn tay, hơi thở thiếu một nhịp thì chẳng còn là hô hấp, đại bàng thiếu một cánh thì chẳng còn là chúa tể bầu trời. Cũng vậy, người môn đệ thánh Biển Đức nếu thiếu cầu nguyện hoặc lao động thì chẳng còn là Đan sĩ; hai hoạt động này làm nên căn tính của đời sống Đan tu. Quả vậy, thánh Biển Đức nhấn mạnh tầm quan trọng bậc nhất của việc cầu nguyện đối với một Đan sĩ khi ngài viết trong Tu luật rằng: “Đừng lấy gì làm hơn Việc Chúa” (TL 43,3). Rồi ở một chỗ khác, ngài lại cho thấy việc lao động không bao giờ được tách rời khỏi các môn sinh của mình: “Chỉ khi nào ta sống bằng thành quả lao động của mình…khi ấy chúng ta mới thật là Đan sĩ” (TL 48,8). Điều này đòi hỏi người Đan sĩ phải học biết quân bình giữa cầu nguyện và lao động để không đánh mất “chất muối” của mình. Ai đó đã nói rằng: các Đan sĩ giống như những đài tiếp vận sự sống thiêng liêng, với một đầu được kết nối đến Thiên Chúa – Nguồn Mạch Sự Sống nhờ cầu nguyện, và đầu còn lại được kết nối đến nhân loại để chuyển thông sức sống thiêng liêng đã nhận được qua lao động; hình ảnh này diễn tả thật đẹp ơn gọi Đan tu chiêm niệm.

Trên đây là một vài nét đẹp nơi Đan viện Xitô Thánh Mẫu Châu Sơn Đơn Dương mà ít ai biết rõ, nhưng đã được tôi bật mí cho bạn. Tôi chắc chắn nơi đây còn nhiều vẻ đẹp kín ẩn khác đang chờ đợi bạn khám phá. Hãy đến với chúng tôi để một lần cảm nhận những nét đẹp siêu thoát, những lời kinh ngân vang và cả những khu vườn xum xuê hoa trái đang sẵn sàng dâng trao cho bạn sự an vui giữa cuộc sống bề bộn này.